Khám Hệ Thống Động Tĩnh Mạch – Bài Giảng ĐHYD TPHCM

740 views Admin 2

Tác Giả: PGS. TS. Nguyễn Văn Trí – Chủ nhiệm BM Lão ĐHYD
Nguồn: Châu Ngọc Hoa (2012), Bộ Môn Nội – ĐHYD TPHCM, Triệu Chứng Học Nội Khoa, NXB Y Học – TPHCM.


I. ĐẠI CƯƠNG

1. Hệ động mạch

Hệ động mạch mang máu đã bão hòa ôxy từ tim đến các mô trong cơ thể. Có thể sờ được động mạch khi động mạch đi nông dưới da hoặc đi sát xương. Các vị trí có thể sờ thấy mạch được ghi trong hình 2.1. Khi thất trái tống máu ra động mạch chủ cũng là lúc sóng mạch khởi đầu lan ra ngoại vi. Cần nhớ là sóng mạch lan ra ngoại vi nhanh hơn dòng máu chảy. Kết quả ghi nhận qua đo áp lực trong lòng mạch cho kết quả tương ứng với kết quả ghi nhận được qua cảm giác của ngón tay đè trên thành động mạch (hình 2.2). Những yếu tố ảnh hưởng đến mạch được liệt kê trong bảng 2.1. Các tiểu động mạch giữ vai trò quan trọng trong điều chỉnh kháng lực ngoại biên. Những động mạch lớn như động mạch đùi, cảnh, quay hoạt động đơn giản như một ống dẫn và có vai trò rất ít trong điều chỉnh huyết áp.

2. Hệ tĩnh mạchtinh mach chinh cua co the

Tĩnh mạch tập trung máu từ các mô về tim. Hình 2.3 minh họa các tĩnh mạch chính của cơ thể. Áp lực trong hệ tĩnh mạch thấp hơn áp lực trong hệ động mạch rất nhiều. Máu từ tĩnh mạch ở ngực và bụng được dẫn lưu thụ động trực tiếp về tĩnh mạch chủ dưới hoặc gián tiếp qua tĩnh mạch azygos. Ở tư thế đứng, sự hồi lưu của tĩnh mạch đầu và cổ có sự tham gia của trọng lực. Ở tĩnh mạch chi, đặc biệt là chi dưới, sự hồi lưu tĩnh mạch thụ động không đủ hiệu quả. Hệ tĩnh mạch chi được chia thành tĩnh mạch sâu và tĩnh mạch nông. Trong lòng tĩnh mạch có hệ thống van một chiều giúp máu di chuyển một chiều về tim. Khi vận động, cơ co thắt ép vào tĩnh mạch sâu giúp máu di chuyển dễ dàng về tim.

Bảng 2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến mạch

Vận tốc tống máu của tim
Thể tích nhát bóp của tim (giảm khi nhịp nhanh, suy tim)
Kháng lực ngoại vi (giảm gây trụy mạch)
Tắc nghẽn buồng thoát thất trái (mạch lên chậm trong hẹp động mạch chủ)
Độ đàn hồi của mạch máu ngoại vi (người già mạch cứmg)

 

vi tri mach so duoc tren co the

Hình 2.1: Vị trí mạch sờ được

II. CÁCH KHÁM CHI TRÊN

Quan sát cả hai chi từ đầu ngón đến vai. Chú ý đến kích thước và sự cẩn đối của hai chi, màu sắc của da và móng, quan sát hệ thống tĩnh mạch nông, phù.

1. Mạch quay

Bằng mặt lòng của đầu ngón trở và đầu ngón giữa sờ mạch quay ở cạnh ngoài mặt gấp cổ tay. Khám mạch quay để đánh giá tần số tim và nhịp tim. Nếu nghi ngờ có bất thường ở động mạch cánh tay, cần khám mạch quay hai bên cùng lúc để so sánh độ nẩy (volume) và thời gian kéo dài của mạch (timing). Cần khám mạch quay và mạch đùi cùng lúc nếu nghi ngờ có hẹp eo động mạch chủ. Khi hẹp eo động mạch chủ không chỉ độ nẩy của động mạch đùi giảm mà mạch đùi còn đến chậm hơn đáng kể so với mạch quay.

2. Mạch trụ

Sờ mạch trụ ở mặt gấp phía trong cổ tay. Thường thì mạch trụ không sờ thấy. Để đánh giá động mạch tại có thể dùng test Allen. Đặt hai ngón tay cài nhẹ nhàng trên hai mạch quay của bệnh nhân, sau đó yêu cầu bệnh nhân nắm chặt hai lòng bàn tay lại. Ép mạnh ngón cái để làm nghẽn hai mạch quay và yêu cầu bệnh nhân buông hai bàn tay ra ở tư thế lòng bàn tay xòe hơi gập nhẹ. Quan sát màu sắc của hai lòng bàn tay. Bình thường lòng bàn tay sẽ hồng lại nhanh vì máu qua động mạch trụ đến lòng bàn tay. Nếu không hồng trở lại, có nghĩa là mạch trụ bị tắc.

3. Mạch cánh tay

Tốt nhất là bắt mạch cánh tay bên phải của bệnh nhân bằng ngón cái bên phải của người khám. Ngón tay cái đặt ở mặt trước khuỷu phía trong gân cơ nhị đầu, các ngón còn lại ôm lấy mặt sau khuỷu. Tuy nhiên phải rất cẩn thận khi dùng ngón cái để lấy mạch vì có thể nhầm vói chính mạch của người khám khi mà mạch bệnh nhân quá yếu trong bệnh lý mạch ngoại biên. Lợi điểm của ngón cái là có cảm giác về động học nhạy hơn nhiều so với các ngón khác, nhờ đó có thể giúp nhận rõ tính chất mạch. Có thể bắt mạch cánh tay bằng ngón trỏ và ngón giữa.

4. Mạch cảnh

Mạch cảnh ở gần tim nên phản ánh hoạt động của tim tốt nhất. Bắt mạch cảnh bên phải bệnh nhân bằng cách đặt mặt lòng đỉnh ngón tay cái của người khám lên thanh quản của bệnh nhân, sau đó ép nhẹ ra phía sau bên (hình 2.6). Cách khám khác là dùng ngón trỏ và ngón giữa đặt một bên cổ bệnh nhân (hình 2.7). Trong hẹp động mạch chủ nặng mạch cảnh lên chậm rất rõ. Nếu mạch cảnh khó bắt mà mạch quay và mạch cánh tay dễ bắt, nguyên nhân có thể do hẹp động mạch chủ vì càng ra ngoại vi mạch càng trở nên bình thường hơn. Trong bệnh cơ tim phì đại, dấu mạch giật (jerky) có thể gặp do mạch lúc khởi đầu bình thường sau đó đột ngột tụt xuống do dòng phụt bị mất đột ngột lúc buồng thoát thất trái bị tắc lại.

III. CÁCH KHÁM CHI DƯỚI

Quan sát từ háng, mông đến ngón chân. Chú ý đến kích thước và sự cân đối của hai chân, màu sắc da và móng, sự phân bố lông, sắc tố da, nốt mẩn, sẹo, vết loét, đường tĩnh mạch nông và những chỗ tĩnh mạch dãn, phù.

1. Mạch đùi

Bắt mạch đùi để đánh giá hoạt động của tim cũng tốt như mạch cảnh. Khi có bệnh lý của động mạch chủ hoặc động mạch chậu thì mạch đùi thường mất hay giảm. Khi khám, bệnh nhân nằm trên giường phẳng, bộc lộ vùng cần khám (cởi quần áo), ngón cái hoặc ngón trỏ và giữa của người khám đặt tại điểm giữa của đường nối từ gai chậu trước trên và xương mu.

2. Mạch khoeo

Mạch khoeo nằm sâu trong hố khoeo nhưng có thể bắt được khi ép lên mặt sau xưong đùi. Bệnh nhân nằm trên giường phẳng với đầu gối hoi cong. Người khám dùng các ngón tay của một bàn tay ép lên trên các đầu ngón của một bàn tay còn lại đang đặt trên hố khoeo ở sau khóp gối (hình 2.11). Khám mạch khoeo chủ yếu để đánh giá bệnh lý mạch ngoại vi, đặc biệt ở người có cơn đau cách hồi.

3. Mạch mu bàn chân và mạch chày sau

Bắt mạch này chủ yếu để đánh giá bệnh lý mạch máu ngoại vi, mặc dù có thể dùng để đánh giá tần số mạch và nhịp mạch như trường hợp bệnh nhân đang được gây mê. Bắt mạch mu bàn chân dọc theo mặt bên của gân duỗi dài ngón cái (hình 2.12). Bắt mạch chày sau ngay phía sau mắt cá trong (hình 2.13).

IV. ĐO HUYẾT ÁP

Trên lâm sàng, để xác định huyết áp trước tiên cần dùng máy đo huyết áp và ống nghe. Băng quấn của máy đo bao quanh cánh tay trên khuỷu và bơm hơi vào trong băng quấn. Khi áp lực trong băng quấn lớn hơn áp lực tâm thu ở động mạch cánh tay, động mạch cánh tay bị ép và sẽ mất mạch quay. Khi áp lực trong băng quấn giảm từ từ đến lúc máu có thể tống qua chỗ tắc nghẽn tạo nên âm thanh nghe được bằng Ống nghe đặt trên động mạch cánh tay tại khuỷu. Những âm thanh này gọi là tiếng Korotkoff do thầy thuốc người Nga tên Korotkoff mô tả đầu tiên. Khi áp lực trong băng quấn giảm dần thì tiếng Korotkoff rõ lên, sau đó đột ngột giảm và nhanh chóng mất hẳn. Ngay lúc mất hẳn gọi là pha 5 của Korotkoff; pha này dùng để xác định huyết áp tâm trương trên lâm sàng. Tại thời điểm tiếng Korotkoff đột ngột giảm hẳn gọi là pha 4. Pha 4 đúng với huyết áp tâm trương nhất khi so sánh với áp lực trong lòng động mạch nhưng pha 5 dễ cho kết quả giống nhau hơn giữa những người đo khác nhau. Hình 2.15 minh họa mối liên quan giữa áp lực trong bao quấn với tiếng Korotkoff và áp lực động mạch.

Để đo huyết áp chính xác, cánh tay bệnh nhân để trần, băng quấn áp sát nhẹ nhàng. Cánh tay bệnh nhân để ngang tim ở tư thế thư giãn. Tốt nhất là kiểm tra huyết áp tâm thu bằng ngón tay trước khi đặt ống nghe. Bởi vì một số bệnh nhân có huyết áp rất cao, tiếng Korotkoff có thể biến mất rồi sau đó xuất hiện trở lại khi áp lực trong bao quấn giảm xuống. Hiện tượng này gọi là khoảng trống thính chẩn. Để đo được chính xác áp lực trong bao quấn nên giảm xuống từ từ, tốt nhất khoảng 1mmHg/giây. Huyết áp kế thủy ngân nên giữ thẳng đứng, không được nghiêng. Nếu sử dụng huyết áp kế đồng hồ phải thường xuyên điều chỉnh lại theo huyết áp kế thủy ngân vì huyết áp kế đồng hồ dễ sai lạc theo thời gian.

Mối liên quan giữa áp lực trong bao quấn máy đo với tiếng Korotkoff và áp lực động mạch
Hình 2.15: Mối liên quan giữa áp lực trong bao quấn máy đo với tiếng Korotkoff và áp lực động mạch.

Bệnh nhân có huyết áp cao thường có triệu chứng đi kèm như thay đổi đáy mắt, phì đại thất trái, đạm niệu. Những người không có triệu chứng biểu hiện, khi đo huyết áp ngẫu nhiên một lần duy nhất mà ghi nhận con số huyết áp cao, không được phép vội vã chẩn đoán xác định là tăng huyết áp. Đo huyết áp lặp đi lặp lại nhiều lần, kết quả những lần sau thường có xu hưóng thấp hơn lần trước. Nên nhớ có trường hợp khi đo ở bệnh viện ghi nhận huyết áp cao nhưng khi đo tại nhà hoặc qua kết quả của máy theo dõi huyết áp liên tục (holter) cho thấy huyết áp lại thấp hơn hoặc trở về bình thường. Nguyên nhân gây thay đổi huyết áp như vậy hiện còn bàn cãi. Như vậy cần đo huyết áp nhiều lần trước khi xác định là tăng huyết áp, nhất là ở những người không có tổn thương cơ quan đích. Những điểm quan trọng khi đo huyết áp được tóm tắt như sau:

– Mở trần cánh tay được đo.

– Để cánh tay ngang tim tư thế thư giãn.

– Kích thước băng quấn phù hợp: băng quấn lớn cho cánh tay mập, băng quấn nhỏ cho trẻ em.

– Xác định huyết áp tâm thu bằng tay trước khi áp ống nghe.

– Giảm áp lực bao quấn không nhanh hơn 1mmHg/giây.

– Xác định huyết áp tâm trương dựa vào pha 5 của Korotkoff (mất hẳn âm).

– Huyết áp kế đồng hồ cần điều chỉnh thường xuyên theo huyết áp kế thủy ngân.

– Nếu sử dụng huyết áp kế thủy ngân, phải để huyết áp kế thẳng đứng.

Premium WordPress Themes Download
Download WordPress Themes
Download WordPress Themes
Download WordPress Themes
udemy paid course free download
download samsung firmware
Premium WordPress Themes Download
ZG93bmxvYWQgbHluZGEgY291cnNlIGZyZWU=

XEM PHẦN 2: ÁP LỰC TĨNH MẠCH VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG KHÁC »

Bạn đánh giá bài viết này như thế nào?

Leave A Comment
*
*


Read previous post:
Bệnh Án Nội Khoa – Bài Giảng ĐHYD TPHCM
Nhức Đầu – Bài Giảng Y Hà Nội
Xét Nghiệm Aldosteron
Xét Nghiệm Aldolase
Xét Nghiệm Albumin
Close