Bệnh Học Ngoại - ĐHYD TPHCM

Bỏng – Bài Giảng ĐHYD TPHCM

3001 views Admin 20

Tác giả: PGS. BSCKII. Nguyễn Thế Hiệp – ĐH Y Dược TPHCM
Trích: Bệnh Học Ngoại Khoa Tiêu Hoá – ĐH Y Dược TPHCM


I. DỊCH TỄ HỌC – NGUYÊN NHÂN VÀ PHÂN LOẠI BỎNG

A. DỊCH TỄ BỎNG

Bỏng là một chấn thương gặp cả trong thời bình và thời chiến. Trong chiến tranh, tỉ lệ bỏng thường chiếm khoảng từ 3-10% tổng số thương binh. Nếu là chiến tranh hạt nhân, thì số người bị bỏng có thể lên tới 70-85% tổng số nạn nhân. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, theo một báo cáo của Pốt-nhi- côp (Liên xô cũ) tổng số thương binh bị bỏng chiếm 2,5%. Trong chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam, tùy theo từng giai đoạn và từng trận, tỉ lệ ấy có thể từ 3,3% đến 6,7%. Trong thời bình, bỏng chiếm một tỉ lệ khoảng từ 5-10% tổng số các chấn thương ngoại khoa. Ở Mỹ, mỗi năm có hơn 2 triệu người bị bỏng; trong đó có khoảng 100.000 người phải nhập viện. Ở các nước công nghiệp phát triển, người ta tính toán rằng: cứ khoảng 10.000 dân thì cần từ 0,2 đến 0,5 giường bệnh giành cho bỏng. Tùy theo điều kiện cụ thể ở từng nơi, người ta có thể xây dựng các cơ sở chuyên chữa bỏng dưới nhiều hình thức: Trung tâm điều trị bỏng, Khoa bỏng trong một bệnh viện, Đơn vị điều trị bỏng trong một Khoa ngoại… Ở Mỹ có 145, ở Liên xô (cũ) có 80, ở Pháp có 18 cơ sở chuyên khoa điều trị bỏng như vậy. Ở nước ta, Viện bỏng quốc gia mang tên Lê Hữu Trác được thành lập từ năm 1991, nhiều bệnh viện lớn trong cả nước đã có Khoa bỏng hay bộ phận điều trị bỏng.

B. TÁC NHÂN GÂY BỎNG

Gồm 4 loại chính là sức nóng, luồng điện, hóa chất và các tia bức xạ. Dưới đây là tí lệ các loại bỏng theo nguyên nhân gây bỏng tại khoa Bỏng bệnh viện Chợ Rẩy (Bảng 1).

Bảng 1. Nguyên nhân gây bỏng

Nhiệt (77,50)

Điện

(9,01)

Hóa chất

(13,44)

Khô (70,38)

Ướt (7,12)
Xăng Dầu Cháy nhà Alcool Pháo Khí đốt Nước sôi Acid Khác
27,05 19,72 7,70 7,43 6,01 2,47 7,12 9,01 11,86 1,58

C. PHÂN LOẠI BỎNG

1. Theo độ sâu

Hình ảnh bên ngoài và đặc điểm của bỏng.

Muốn đánh giá độ sâu của vết bỏng bằng những hình ảnh bên ngoài của vết thương, đòi hỏi phải có kinh nghiệm. Người ta có thể chia độ sâu của vết bỏng thành 4 hay 5 độ. Dưới đây là cách chia làm 4 độ, thường dùng ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ (Hình 1).

Muốn xác định độ sâu của vết bỏng, người ta dựa vào những đặc điểm của tổn thương:

a. Bỏng độ 1: như “cháy nắng”.

b. Bỏng độ 2 (2°): được chia tàm 2 mức độ:

– Bỏng bề mặt da (2a): có những đặc điểm:

  • Mụn nước (nông).
  • Mẩn đỏ, dấu hiệu “ấn-mất” (+).
  • Thể chất vết thương bình thường.
  • Vết thương ẩm.
  • Lông còn chắc.
  • Đau đớn nhiều.
  • Châm kim chảy máu ngay.

– Bỏng da sâu (2b): có những đặc điểm:

  • Mụn nước (sâu hơn).
  • Lớp trung bì màu trắng.
  • Dấu hiệu “ấn-mất” (+).
  • Thể chất vết thương chắc, mất tính đàn hồi.
  • Bề mặt vết thương ẩm.
  • Lông còn dính (hoặc rụng một phần).
  • Cảm giác đau giảm nhiều; châm kim sâu tới lớp trung bì mới biết.

c. Bỏng độ 3: cũng được chia làm 2 mức:

– Bỏng toàn bộ lớp da (3a) có những đặc điểm sau:

  • Mụn bỏng.
  • Dấu hiệu “ấn-mất” (-).
  • Tổn thương khô.
  • Mật độ chắc.
  • Lông, tóc, móng, rụng.
  • Mất cảm giác đau, phải đâm kim sâu mới biết; đâm kim sâu tới hết lớp da mới rỉ máu.

– Bỏng độ 3 sâu (3°) có nhũng đặc điểm sau:

  • Da bị phá hủy khô.
  • Đáy vết thương: tổ chức bị hủy hoại màu trắng hoặc đỏ, những dấu hiệu “ấn-mất” không còn; hoặc vùng tổn thương đã cháy đen.
  • Màu vàng như sáp, trong suốt; có thể nhìn thấy những tĩnh mạch bị tắc ở dưới.
  • Thể chất căng cứng, hoặc da bị nứt nẻ.
  • Lông, tóc, móng, rụng ra.
  • Mọi cảm giác đau đều mất. Châm kim cũng không biết và không còn chảy máu nữa.

d. Bỏng độ 4: sâu hơn nữa; tổn thương cháy tới tận lớp cơ, xương…

Hình 1. Độ sâu của tổn thương bỏng

2. Theo độ rộng

Sự lan rộng và xác định vùng bị bỏng:

Độ rộng vết bỏng trên cơ thể bệnh nhân là một hình ảnh dễ nhận biết. Trên diện tích bị thương này, cơ thể đã mở cửa thông thương với bên ngoài; và qua đó, cơ thể sẽ bị mất dịch, mất nhiệt và bị vi trùng xâm nhập. Cần đánh giá chính xác độ rộng của tổn thương bỏng. Điều này rất có ý nghĩa trong giai đoạn choáng bỏng, vì nó là cơ sở để giúp người thầy thuốc tính toán lượng dịch truyền cho bệnh nhân.

– Mỗi trung tâm điều trị bỏng thường có sẵn những hình ảnh vẽ cơ thể con người, kèm theo một bảng tỉ lệ % diện tích từng bộ phận so với toàn thân. Điều đáng lưu ý trong bảng này là sự phân chia diện tích từng phần cơ thể ở trẻ con có khác so với người lớn: đầu trẻ con chiếm tỉ lệ lớn hơn và chân thì nhỏ hơn.

– “Công thức số 9” là công thức đơn giản và dễ nhớ, nó phân chia từng phần cơ thể người lớn thành những khoảng diện tích 9%: toàn bộ diện tích đầu và cổ; cũng như vậy đối với mỗi chi trên. Thân trước (bụng + ngực), thân sau (lưng) và mỗi chi dưới được tính 2 lần 9%, là 18%. Bộ phận sinh dục ngoài và vùng hội âm là 1%.

– “Công thức bàn tay” sẽ giúp ích cho “công thức số 9” trong trường hợp vùng tổn thương không nằm gọn trên cùng một bộ phận cơ thể. Diện tích bàn tay tương đương với 1% diện tích cơ thể.

3. Theo vị trí

Ngoài độ rộng và sâu của vết bỏng, vị trí của tổn thương nhiều khi có ý nghĩa, rất quan trọng. Một vài vị trí cần đặc biệt chú ý: đầu, mặt; các khớp ở chi và đặc biệt ở hai bàn tay; vùng cổ, ngực, bụng, tứ chi (chu vi); vùng tầng sinh môn…

II. CHẨN ĐOÁN

A. CHẨN ĐOÁN ĐỘ SÂU CỦA BỎNG

Trong thực tế lâm sàng, người ta thường chia độ sâu của tổn thương bỏng thành hai nhóm lớn:

– Bỏng nông: gồm bỏng độ 1, 2a và 2b. Ở nhóm này, các tổn thương của bỏng có thể tự lành được, nhờ quá trình tự biểu mô hóa: từ lớp tế bào mầm ở bỏng thượng bì (2a); hoặc từ các tế bào biểu mô còn lành của ống lông và gốc lông, của tuyến mồ hôi, tuyến chất nhờn ở bỏng trung bì (2b) (Hình 1). Thực ra, sẹo của bỏng trung bì (2b) thường xấu hơn da non trong bỏng thượng bì (2a). Bởi vậy, tùy theo điều kiện cụ thể (vị trí tổn thương bỏng, cơ sở điều trị…), vì mục đích thẩm mỹ người ta có thể tiến hành ghép da cho những trường hợp này (bỏng độ 2a).

– Bỏng sâu: gồm những tổn thương của toàn bộ lớp da (3a), tới dưới lớp cân dưới da (3b) hoặc sâu hơn nữa (độ 4)… tất cả những tổn thương này nhất thiết phải ghép da mới khỏi được.

Việc chẩn đoán giữa bỏng nông và bỏng sâu rất quan trọng, để dự kiến kế hoạch điều trị và tiên lượng bệnh. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân cần được khám đi khám lại nhiều lần, mới có thể xác định được chính xác độ sâu của vết bỏng.

B. CHẨN ĐOÁN ĐỘ RỘNG CỦA BỎNG

Độ rộng của tổn thương bỏng là cơ sở giúp ta tính toán lượng dịch truyền trong những ngày, giờ đầu tiên. Nếu chẩn đoán độ rộng của bỏng không chính xác, sẽ dẫn đến sai lầm trong việc chỉ định điều trị.

C. PHÂN LOẠI BỆNH NHÂN

Cần phân ra hai loại: bỏng nhẹ (có thể điều trị ngoại trú) và bỏng cần nhập viện, để kịp quyết định hướng xử trí tiếp. Người thầy thuốc đầu tiên khám cho bệnh nhân bỏng thường dễ đánh giá thấp độ sâu của bỏng, do thiếu điều kiện thực hiện việc thăm khám (thời gian, ánh sáng, quần áo bệnh nhân…). Mặt khác, độ sâu của vết bỏng lúc mới bị tổn thương cũng chưa thật ổn định. Những trường hợp nặng mà không kịp chuyển đi ngay trong vòng 1 giờ, nên cho truyền dịch sớm. Bảng dưới đây phân chia một cách đại cương, trong đó một loại cần được điều trị tình trạng chung ngay lập tức, loại kia thì chỉ cần điều trị tại chỗ vết thương cũng đủ (Bảng 2).

 

 

BỎNG

có thể điều trị ngoại trú nên nhập viện
DIỆN TÍCH BỎNG Dưới 10% ở người lớn

Dưới 5-8% ở trẻ con

Trên 10-15% ở người lớn

Trên 10% ở trẻ con

ĐỘ SÂU VẾT BỎNG Bỏng bề mặt đa tự lành được.

Hoặc là bỏng sâu, diện tích nhỏ có thể mổ xẻ ở ngay Khu ngoại chẩn

Bỏng sâu, cần phải được rạch hoặc ghép da
VỊ TRÍ BỎNG
  • Mặt
  • Đường hô hấp
  • Tay
  • Bàn chân
  • Tầng sinh môn
TÌNH TRẠNG BỆNH NHÂN Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, người già, bệnh nhân đã có một bệnh nội khoa
CÁCH THỨC BỊ BỎNG
  • Bỏng điện
  • Cháy nhà (trong phòng)
Download Best WordPress Themes Free Download
Download WordPress Themes
Download WordPress Themes Free
Download WordPress Themes Free
download udemy paid course for free
download lenevo firmware
Download WordPress Themes
udemy course download free

XEM PHẦN 2: ĐIỀU TRỊ »

Bạn đánh giá bài viết này như thế nào?

Leave A Comment
*
*


Read previous post:
Cấp Cứu Bụng Ngoại Khoa – Bài Giảng ĐHYD TPHCM
Viêm Âm Đạo – Phác Đồ Bộ Y Tế
Viêm Phần Phụ – Phác Đồ Bộ Y Tế
Tổn Thương Lành Tính Cổ Tử Cung – Phác Đồ Bộ Y Tế
Các Tổn Thương Vú – Phác Đồ Bộ Y Tế
Close